25 thg 10, 2015

Niệm Phật tại chùa Long Phú (Tân Phú Tây, Mỏ Cày Bắc, Bến Tre) 25/10/2015


Đủ duyên trở về đạo tràng chùa Long Phú tu tập, các Phật tử lại được chư ni hoan hỷ tiếp đón chu đáo. Trước đó, chư tăng ni đã hướng dẫn đoàn tổ chức lễ phóng sanh thả cá ra sông Hàm Luông tại bến phà cũ. Một pháp thoại ngắn nhưng rất quý báu cuối thời khóa tu tập đã được sư cô trụ trì gửi đến các liên hữu làm hành trang trên con đường tìm về giải thoát.
Trên đường về, mọi người đã đến viếng chùa Long Tường (Tiền Giang) và lễ Phật. Dịp này, các Phật tử đã lễ tạ, tri ân công đức chư tăng đã đến viếng tang, hộ niệm, kỳ siêu cho hương linh các liên hữu vừa quá vãng chưa lâu.




































Hoạt động sắp tới được cập nhật TẠI ĐÂY

21 thg 10, 2015

NIỆM PHẬT TAM-MUỘI

Thông Bác



Yếu chỉ của tam-muội trong pháp môn niệm Phật là sự "lắng nghe" chứ không cốt niệm cho nhiều mà tâm không rõ. Lắng nghe càng rõ sức tam-muội càng tự tập trung, tự thanh tịnh. Thanh tịnh càng rõ ràng càng tăng trưởng trí tuệ.

Tam-muội cũng gọi là nhất tâm, cũng có nghĩa là chánh định. Chánh định trong niệm Phật đã gồm chánh kiến, chánh niệm, chánh nghiệp, chánh mạng, chánh ngữ, chánh tinh tấn, kể cả chánh tư duy trong Bát chánh đạo. Đặc biệt, niệm Phật tam-muội bao trùm các căn cơ, trình độ nào tu cũng được, hoàn cảnh nào áp dụng cũng được.

Bậc thượng trí xuyên suốt kinh giáo, càng nên niệm Phật tam-muội để dễ bề bao quát và tiến sâu vào thể tánh. Bởi một câu Phật hiệu nếu áp dụng đúng cách vẫn thẩm thấu từ căn tướng đến thể tánh. Và pháp môn niệm Phật là chánh giáo, chánh lý, chánh hướng cho tâm chánh giác trong bất cứ pháp tu nào thuộc đề mục ngoài tâm.

Thời đại mạt pháp, người Phật tử tại gia nên gắn bó với một câu Phật hiệu, tùy theo tình cảm của mình về một Đức Phật, một vị Bồ-tát, hoặc một vị A-la-hán nào mà mình cảm thấy gần gũi và kính thương nhất. Cứ một câu theo danh hiệu như Nam-mô Bổn Sư Thích-ca Mâu-ni Phật, hay Nam-mô A-di-đà Phật v.v… Nếu là pháp môn thì chỉ nên áp dụng một câu gọi là "một niệm muôn đời, muôn đời một niệm". Cứ vậy, thọ niệm không ngừng nghỉ. Niệm đến thành Phật cũng cứ niệm. Bởi trong đó đã đầy đủ Phật pháp.

Niệm Phật đã vào tam-muội (nhất tâm) thì tâm tự niệm tự giác (rõ ràng) tự thanh tịnh.

Thanh tịnh trong tam-muội thường tăng sanh phỉ lạc vấn đề nên lưu tâm; dù phỉ lạc tràn đầy cũng đừng nên tham đắm. Nếu tham đắm vào phỉ lạc sẽ làm cho tâm quên dần sự rõ ràng, sẽ làm cho câu niệm Phật chìm loãng, tan dứt lúc nào cũng không hay. Hơn thế, trong tam-muội thường xảy ra các loại ánh sáng, các thần giao, các cảnh giới rực rỡ tốt đẹp… Hành giả niệm Phật hãy để các thứ này xảy ra và tan mất tự nhiên; chúng chỉ là kết quả của tam-muội, những ảo ảnh tốt chứ không phải chân giác ngộ giải thoát.

Mục đích của niệm Phật tam-muội là minh tâm kiến tánh. Tâm tánh có căn bản là bất sanh bất diệt, cũng gọi là Pháp thân, Bản lai diện mục, Niết-bàn.

Niệm Phật tam-muội không chủ ý niệm cho nhiều trong một lúc một thời nào đó, nhưng lại chuyên, phải thường niệm để đánh bại tạp niệm, để không quên tâm chánh niệm trong bốn oai nghi đi, đứng, nằm, ngồi, trong sinh hoạt, làm việc… Trong tất cả hành vi của đời sống lắng nghe rõ ràng từng niệm, từng câu.

Để thực hành niệm Phật tam-muội, hành giả nên niệm từ một đến bảy câu thì xả. Một lần xả là coi như mới bắt đầu lại; chú tâm vào câu thứ nhất cho rõ ràng rành mạch, liên tục đến câu thứ bảy lại xả. Chỉ niệm trong bảy câu thì hành giả dễ lắng nghe và quán xuyến trọn vẹn từng tiếng, từng câu trong tâm. Từ một đến bảy câu là coi như một "quá trình thành tựu".

Nếu có điều kiện, môi trường thì nên tổ chức nhập thất, tối thiểu là bảy ngày, nhiều thì một tháng, ba tháng, một năm, ba năm. Muốn nhập thất niệm Phật có kết quả thì phải chuẩn bị tinh thần, điều kiện thuận, có thầy hướng dẫn, có người hộ thất cho, có sự an ninh v.v… Và phải làm lễ phát nguyện trước Tam bảo, trước vị Phật hoặc vị Bồ-tát mà mình sẽ niệm danh Ngài. Cầu xin Phật, Bồ-tát chứng minh, gia hộ suốt trong thời gian nhập thất. Hết thời gian, xả thất cũng phải làm lễ tạ ơn. Nếu có vị thầy có kinh nghiệm hướng dẫn, chứng minh cho trong suốt thời gian nhập thất thì quá quý.

Muốn công phu niệm Phật được miên mật trong suốt thời gian nhập thất, thì nên áp dụng vào hai tư thế là tọa niệm và kinh hành. Với tư thế kinh hành thì nên áp dụng mỗi niệm một bước. Bước càng chậm rãi, niệm càng lắng sâu, nghe càng rõ ràng. Hết kinh hành lại tọa niệm, xong tọa niệm đến kinh hành. Hãy chia đều thời gian, kinh hành nửa giờ thì tọa niệm cũng nửa giờ. Không có đồng hồ thì nên thắp một cây hương cho một tư thế. Cháy hết một cây hương là biết giờ công phu của mình.

Điều quan trọng nhất trong niệm Phật tam-muội là cái tâm tha thiết nhiệt thành, trân trọng pháp môn, chú tâm lắng nghe cho thật rõ, dù chỉ niệm thầm.

Nếu có được cái tâm tinh tấn, toàn tâm với câu niệm Phật, với sự chuyên cần trong điều kiện nhập thất v.v… thì hành giả sơ tâm niệm Phật cũng chỉ sau một tháng sẽ vào được nhất tâm. Nhưng chớ nên khởi tâm cầu nhất tâm, bởi nhất tâm không thể do cầu mà được, mà do công phu tinh cần chuyên nhất vào pháp môn.

18 thg 10, 2015

Niệm Phật tại chùa Thiên Ân (Sông Ray, Cẩm Mỹ, Đồng Nai) 18/10/2015


Vượt qua những khu rừng cao su heo hút, chuyến xe chở đoàn đã đến chùa Thiên Ân, ngôi tự viện còn nhiều khó khăn nằm trong xã nghèo Sông Ray thuộc huyện Cẩm Mỹ, Đồng Nai. Nơi ngôi chánh điện bé nhỏ, các Phật tử đã có một ngày niệm Phật tu tập nhiều an lạc.















Hoạt động sắp tới được cập nhật TẠI ĐÂY

15 thg 10, 2015

Chánh Hạnh Niệm Phật

(trích Mộng Du Tập)

Đại Sư Hám Sơn


Cội gốc sanh tử tức là các thứ vọng tưởng hàng ngày của chúng ta, các thứ nghiệp phiền não thương ghét, tham lam, giận hờn của chúng ta, nếu còn một mảy may không dứt thì tức là còn gốc rễ sanh tử. Nay muốn tham thiền đốn ngộ liễu thoát sanh tử, hãy tự suy nghĩ xem có thể một niệm dứt ngay phiền não của nhiều kiếp như chặt đứt một cuộn chỉ hay chăng? Nếu chẳng thể dứt sạch phiền não thì dẫu cho đốn ngộ, cũng thành nghiệp ma, đâu nên xem thường? Các vị tổ xưa kia đốn ngộ, cũng nhiều đời tích lũy công phu tu tập dần dần (tiệm tu) mà được, cho nên “đốn ngộ” này nói thì dễ mà thật ra là rất khó. Nếu không có hai, ba mươi năm hạ thủ công phu, thì làm sao có thể ở trong chốn phiền não lẫy lừng mà được một niệm đốn ngộ. Điều thiết yếu là phải tự biết căn khí mình như thế nào? Đến như một môn niệm Phật, người đời không biết sự nhiệm mầu của nó, xem là thiển cận, kỳ thật mỗi bước thực hành cho đúng thì như thế nào? Chúng ta từ khi có sanh tử đến nay, niệm niệm vọng tưởng phan duyên tạo nghiệp sanh tử, đâu từng có một niệm quay trở về soi lại tự tâm, đâu từng một niệm chịu đoạn dứt phiền não. Nay nếu có thể đem tâm vọng tưởng chuyển làm niệm Phật thì niệm niệm dứt phiền não. Nếu niệm niệm dứt được phiền não thì niệm niệm ra khỏi sanh tử.

Nếu một niệm niệm vững chắc không đổi dời nhất tâm bất loạn, so với tham thiền còn có kết quả hơn. Tóm lại, chỉ do một niệm thiết tha chân thực mà thôi. Nhưng tham thiền nhất định cần phải chết đi hết tâm thế tục không còn một niệm vọng tưởng, còn niệm Phật là lấy tưởng tịnh chuyển tưởng nhiễm, dùng tưởng trừ tưởng, là Pháp Hoán Chuyển, cho nên đối với căn khí của chúng ta ngày nay dễ thực hành hơn.

Tu tịnh độ không cần phải kiến tánh, chỉ chuyên lấy niệm Phật làm chánh hạnh và lấy bố thí, trai tăng, tu các công đức phước điền làm trợ nhân trang nghiêm cõi nước Phật trong tâm niệm Phật, tuy phát nguyện vãng sanh, nhưng cần phải biết trước tiên chặt đứt cội gốc sanh tử mới có hiệu quả. Cội gốc sanh tử tức là sự tham lam, hưởng thụ vật chất thế gian tất cả đều là gốc khổ và mọi thứ tâm suy ấy chấp trước giận hờn, cùng các thứ giáo pháp do tà sư tà ma ngoại đạo thuyết, đều phải tận mình mửa ra cho hết, chỉ tin một pháp môn Niệm Phật tâm không lúc nào quên danh hiệu Phật. Phật là Giác, nếu niệm Phật không quên Phật, tức là niệm niệm minh giác. Tâm nếu quên Phật liền là Bất Giác. Nếu niệm đến trong mộng cũng niệm được tức là thường giác không mê muội! Hiện tại nếu tâm nầy không mê muội thì lúc lâm chung tâm nầy không mê muội, ngay chỗ tâm nầy không mê muội tức là kết quả, nay công việc bận rộn không thể tham thiền, duy có niệm Phật là tốt nhất, bất kể rỗi rảnh, bận rộn, chỗ nào cũng niệm được, chỉ cần một lòng không quên, không còn có pháp nào hay hơn!.

Tham thiền cần phải lìa tưởng, niệm Phật chú trọng vào chuyên tưởng, vì chúng sanh từ lâu nay chìm trong vọng tưởng, đây là lấy độc trị độc, là pháp hoán chuyển mà thôi. Cho nên thâm cứu khó ngộ, niệm Phật dễ thành. Nếu tâm thiết tha muốn giải quyết xong việc lớn sanh tử, đem tâm tham cứu đổi thành tâm niệm Phật, thì lo gì một đời nầy không liễu thoát sanh tử?.

Niệm Phật tức là tham thiền không phải hai pháp, ngay lúc niệm Phật, trước tiên phải buông bỏ hết thảy các thứ vọng niệm, tạp loạn phiền não, tham, sân, si, buông bỏ đến chỗ không còn gì để buông bỏ, chỉ để khởi một câu “A-di-đà Phật”, rõ rành phân minh trong tâm không gián đoạn như sợi chỉ xỏ xâu chuỗi. Dụng công như thế, bất cứ cảnh riêng nào, cũng không bị lôi kéo đánh mất, hàng ngày như vậy trong cảnh náo đông không tạp, không loạn, thức ngủ như một, dụng tâm như thế, niệm đến lúc mạng chung, nhất tâm bất loạn, đó là thời tiết Siêu Sanh Tịnh Độ.

Nếu tâm tha thiết vì việc sanh tử niệm niệm như cứu lửa cháy đầu, chỉ e một phen mất thân người muôn kiếp khó được lại, cần phải cắn chặt lấy một câu danh hiệu Phật nầy, nhất định phải chiến thắng vọng tưởng, bất cứ chỗ nào cũng niệm niệm hiện tiền, chẳng vì vọng tưởng ngăn che. Hạ thủ công phu thiết tha như thế lâu ngày thuần thục tự nhiên tương ưng chẳng cầu thành khối mà tự thành khối.

Phương pháp tu niệm Phật cũng có thứ lớp, người tại gia không cần câu chấp theo thời khoá của chư Tăng trong tự viện, chỉ cần lấy niệm Phật làm chính, mỗi ngày buổi sáng sớm lễ Phật, tụng một quyển kinh Di-đà, lần chuỗi niệm Phật A-di-đà hoặc ba nghìn, năm nghìn, mười nghìn, rồi hồi hướng phát nguyện vãng sanh về cõi nước Cực Lạc. Khoá buổi tối cũng như vậy lấy đây làm định khoá, hàng ngày nhất định không có thiếu sót. Pháp nầy có thể áp dụng phổ thông cho mọi người, nếu vì việc lớn sanh tử thì công phu cần phải khẩn thiết hơn, mỗi ngày trừ hai thời khoá kể trên, suốt ngày đêm chỉ đem một câu “A-di-đà Phật” đặt trong lòng, niệm niệm không quên, tâm không mê muội, tất cả việc đời đều không nghĩ tưởng, chỉ lấy một câu niệm Phật làm mạng sống của mình, cắn chặt không buông, cho đến trong các sinh hoạt hàng ngày, một câu Phật nầy vẫn luôn luôn hiện tiền. Nếu gặp lúc tâm bất an do các cảnh giới nghịch thuận phiền não buồn vui quấy nhiễu, chỉ cần đề khởi một câu niệm Phật nầy lập tức thấy phiền não tiêu diệt. Vì niệm niệm phiền não là gốc khổ sanh tử, nay dùng niệm Phật tiêu diệt phiền não, ấy là Phật độ chỗ khổ sanh tử. Nếu niệm Phật tan được phiền não thì có thể thoát sanh tử. Nếu niệm Phật đến trình độ làm chủ được trên phiền não thì ở trong mộng làm được chủ. Nếu ở trong mộng làm được chủ thì ở trong lúc bệnh khổ làm được chủ thì lúc lâm chung rõ ràng biết được chỗ đi. Việc nầy không khó làm, chỉ cần một niệm tâm tha thiết vì sanh tử, nắm chặt một câu Phật không còn nghĩ ngợi gì khác, lâu ngày thuần thục, tự nhiên được đại an lạc, cái vui ngũ dục thế gian không thể sánh được. Ngoài pháp môn Tịnh Độ nầy, không còn có pháp môn nào thẳng tắt giản dị hơn.

PHẬN SỰ NGƯỜI TU

Thích Viên Thành


Tu là gì? “Tu là quá trình: 1/ quán chiếu nội tâm, 2/ làm triệt tiêu bản ngã và 3/ chuyển hóa nghiệp lực của mình” đây là ba điều kiện tiên quyết, cốt yếu và tinh túy nhất trong phận sự người tu.

Đức Phật đã dạy rằng: “khi chưa chứng A-la-hán thì chưa thể tin vào tâm ta được” vì tâm ta là “tâm viên, ý mã”, thay đổi, sinh diệt không ngừng, cho nên Tổ Đạt-ma muốn độ cho nhị Tổ Huệ Khả cũng phải chỉ ra pháp “an tâm” bằng cách “khai thị” cho Ngài Huệ Khả phải quay lại tìm “tâm bất an” nơi chính mình mới ngộ ra được đạo. Ngài Lục Tổ Huệ Năng khi nghe Kinh Kim Cang đến câu: “bất ưng trụ sắc... thinh, hương, vị, xúc, pháp, sanh tâm, ưng vô sở trụ nhi sanh kỳ tâm...” liền ngộ đạo, cũng là nhờ ở sự quay lại với chính mình để không bị dính mắc, hấp dẫn bởi lục trần, mới ngộ được đạo. Gần gũi nhất tại Việt Nam chúng ta, Ngài Tuệ Trung Thượng Sĩ cũng đã chỉ dạy cho Thái Tử Trần Khâm một câu Pháp yếu như sau: “phản quan tự kỷ bổn phận sự, bất tùng tha đắc”, nghĩa là xem xét lại chính mình là phận sự chính, không phải từ nơi khác mà được, nhờ đây mà sau nầy Việt Nam chúng ta có được Phật Hoàng Trần Nhân Tông với Thiền phái Trúc Lâm Yên Tử và dòng lịch sử oai hùng với ba lần đánh bại giặc Nguyên, Mông đem lại vẻ vang cho dân tộc.

1/ “Quán chiếu tự tâm” là đưa tâm trở về với thân, không cho tâm rong ruổi, lang thang phá hoại lúa mạ nhà người, bằng cách: theo dõi hơi thở vô, ra, tụng kinh, trì chú, niệm Phật, lạy Phật, tham thiền... mục đích là gom tâm về một chỗ, khi “quán chiếu tự tâm” sẽ thấy rõ lỗi mình để mà lo sửa, hầu hoàn thiện tự thân và không thấy lỗi người để phải nhiều phiền não và sinh ra cao ngạo, tội lỗi. Đức Phật cũng đã dạy: “chế tâm nhứt xứ, vô sự bất biện” nghĩa là giữ tâm một chỗ, không có việc gì không làm được. Khi ta giữ tâm được an tịnh, ta sẽ thấy cuộc đời rất an lạc, mọi người đều tốt, cảnh vật chung quanh đều đẹp, đúng như lời Phật dạy: “tâm bình thế giới bình, tâm tịnh quốc độ tịnh” là vậy, khi tâm “bất an” sẽ luôn lao lư sống không thật, nhìn đời với tâm hư thối, phiền não chất chồng.

2/ “Làm triệt tiêu bản ngã” vì “bản ngã” là nguồn gốc của “vô minh” và mọi tội lỗi, khi có “ngã” là có “nhơn” rồi có “chúng sanh” và “thọ giả”. Khi vừa ra đời, Đức Phật đã đưa ra “thông điệp” đầu tiên cũng về chữ “ngã”. Khi có “ngã chấp” thì sẽ có hai bản năng: sinh tồn và hưởng thụ đồng hành với nhau, lúc đó chỉ thấy “ta” là cái rốn của vũ trụ, bắt mọi người phải phục tùng ta, sẵn sàng bươi móc lỗi của người để hòng che đậy lỗi lầm của ta, tạo ra muôn vàn oan trái, khổ đau và mặc sức thụ hưởng sắc dục, chạy theo hình tướng bên ngoài, lấy cơ sở vật chất và danh lợi đạt được làm thành quả của đời tu, quên đi câu “Duy tuệ thị nghiệp”, “tam thường bất túc”, “thiểu dục tri túc” (ít muốn biết đủ) và “an lạc, giải thoát”... làm phương châm và cứu cánh, thì thật là đáng buồn thay! Hòa Thượng Thiện Siêu cũng có viết “Vô ngã là Niết-bàn”, vậy “có ngã là có địa ngục”, thế nên muốn đạt đến Niết-bàn phải tu làm sao cho tự mình và giúp cho nhiều người “triệt tiêu bản ngã” đó mới là nhiệm vụ chính của người tu.

3/ “Chuyển hóa nghiệp lực của mình” ta sinh ra trên đời nầy cũng do “nghiệp”, suốt quá trình sinh sống cũng tạo quá nhiều “nghiệp” mà “nghiệp ác” thì tạo nhiều hơn “nghiệp thiện”, nhưng tất cả “nghiệp” dù “nghiệp thiện hay ác” cũng đều dẫn ta trong “sinh tử luân hồi” mà tu là phải “chuyển nghiệp” quyết “thoát ly sinh tử luân hồi” để đạt an lạc, giải thoát đấy mới là cứu cánh và phận sự chính của người tu, trong kinh có dạy: “Vong thất bồ-đề tâm, tu chư thiện pháp, thị danh ma nghiệp” là vậy (đành mất bồ-đề tâm, mà tu các pháp thiện đó chính là ma nghiệp). Muốn chuyển hóa nghiệp phải “sám hối tự tâm”, phải biết quán chiếu để thấy lỗi lầm của mình mà sửa, phải “tự thấy mình nhỏ thôi, việc tu còn kém cỏi lắm”, để mà khiêm cung, tôn trọng mọi người, bởi vì mọi người cũng là Phật sẽ thành kia mà. Phải hằng lạy Phật sám hối kết hợp với y học, vừa rèn luyện dưỡng sinh, vừa khiêm cung, hạ “bản ngã” xuống, vừa chuyển hóa được nghiệp lực vừa tạo thêm phước đức, đó không phải là lợi ích thiết thực và nhiệm vụ chính của người tu hay sao?

Hạnh “Sa-môn” và phận sự người tu, là trải nghiệm ba pháp tu trên và “một bát cơm ngàn nhà, thân chơi muôn dặm xa, mắt thương xem trần thế, mây trắng hỏi đường qua”. Nếu ai muốn tu mà không trải qua ba điều kiện kể trên, dù có nhiều bằng cấp và tu lâu năm mà không nếm được hương vị an lạc, giải thoát, để phải nhiều lo toan tính toán, đều là tu hình tướng, giả danh mà thôi. Muốn cứu độ mọi người, trước tiên ta phải tự độ được ta, phải không còn “ngã chấp” và “pháp chấp”, phải có của, rồi mới nghĩ đến việc đi cho, phải có nội lực rồi mới mong cứu giúp người, nếu chưa có gì mà sớm “hạ sơn” để mong cứu độ mọi người, thì sẽ là ảo vọng, “Cửa tùng đôi cánh gài” chỉ lụy khổ mà thôi!

Thích Viên Thành

Tại An Lạc thất, Adelaide, Nam Úc những ngày tịnh dưỡng

12 thg 10, 2015

Văn khuyên NHÀM CHÁN TA-BÀ, ƯA SANH TỊNH ĐỘ

(Trích Luận Tịnh độ)
Người dịch: Tỳ-kheo Thích Nguyên Chơn




NHÀM CHÁN TA-BÀ

Là người trí, trong đêm dài thanh vắng, hãy nên ngồi kiết già suy nghĩ:

- Thân của ta hôm nay thật là mong manh như bọt nước, niệm niệm sanh diệt không dừng. Lại sống trong ngôi nhà lửa không an ổn, sao mà cứ tỉnh bơ không chịu quán sát cho kỹ; không kinh, không lo, lòng không mảy may sợ hãi?”.

Lại suy nghĩ:

- Thân này của ta hôm nay đang ở vào địa vị nào? Ba nghiệp thân, khẩu, ý đang làm việc gì đây? Bỗng nhiên, vô thường chợt đến thì ta sẽ sanh vào cõi nào? Lúc bấy giờ, những ác nghiệp từ thời vô thỉ đến hôm nay tranh nhau đưa ta đến chỗ thọ sanh. Trong chốc lát ta sẽ trở thành chúng sanh trong địa ngục, có được bao nhiêu thời gian an ổn mà nằm ngủ trên giường.

Vô lượng vô biên chư Phật và Bồ-tát quá khứ đã xuất hiện ở thế gian, độ thoát vô lượng chúng sanh. Lúc ấy ta đến-đi chốn nào mà không gặp Phật và được Ngài giáo hóa? Đó là do từ vô thỉ đến hôm nay, ta không cung kính Tam Bảo, không gần gũi người lành, không nghe theo lời của thiện tri thức; nên luôn ở trong ba đường ác, mà không được gặp chư Phật. Tịnh độ ở mười phương không khổ, không phiền; vì sao ta lại không được sanh về, mà phải ở mãi trong chốn uế trược quá nhiều khổ não này?

Thân của ta hôm nay thật là khó được, nhưng dễ mất. Kinh Niết-bàn ghi: “Thân người khó được như đất trên móng tay, thân ở trong ba đường ác thì dễ được, nhiều như đất trên đại địa”. Từ vô thỉ đến hôm nay ta đã trải qua vô lượng kiếp thọ thân. Trong mỗi một kiếp số như vậy, lại thọ vô lượng thân. Trong mỗi một thân như vậy, lại tạo nghiệp nhiều như hạt bụi. Trong mỗi một nghiệp ác lại chiêu cảm vô lượng ác báo. Trong mỗi một ác báo như vậy chịu vô lượng khổ. Thế thì cũng không thể nào tính đếm được những nỗi khổ ấy. Những nỗi khổ như thế, là do ta ngu si vô trí, không nghe lời của thiện tri thức dạy bảo. Quá khứ ta đã thọ thân địa ngục, hiện tại ta đang thọ thân địa ngục và tương lai ta cũng sẽ thọ thân địa ngục, chưa từng bao giờ ngừng dứt. Hôm nay, thân này của ta đây, từ khi thọ sanh cho đến nay luôn vì tìm cầu thức ăn, áo mặc. Nếu là người thế gian thì lo nuôi sống vợ con. Nếu là hàng xuất gia thì luôn cầu danh, tìm lợi, thường tạo những ác nghiệp. Những ác nghiệp này, nếu nhẹ thì cảm báo đọa lạc 500 đời, nặng thì trải qua nhiều kiếp.

Nếu hôm nay chúng ta không phát tâm Bồ-đề hổ thẹn sám hối, một khi đã rơi vào đường ác thì vĩnh viễn không có ngày ra khỏi. Trong một sớm một chiều, ta sẽ rơi vào lò lửa, vạc dầu sôi, núi đao, rừng kiếm trăm kiếp, nghìn kiếp thọ tất cả nỗi khổ đau nặng nề và vĩnh viễn. Quá khứ chúng ta đã chịu những nỗi khổ về thân tâm, vị lai chúng ta cũng sẽ chịu khổ như thế, không có giới hạn, khó bỏ, khó lìa mà không tự biết. Phàm phu như thế thật là đáng thương xót! Người hiểu biết suy như vậy, nên khởi tâm lo sợ. Đâu có được an nhiên, cố ý buông lung thân tâm mà không tự xét biết!”.

Ta lại nên suy nghĩ:

- Thân của ta hôm nay phước mỏng, căn cơ thì chậm lụt, sanh vào thời sau Đức Phật Thích-ca và trước thời Đức Phật Di-lặc. Như vậy, chẳng phải do quá khứ ta đã kiêu mạn, buông lung, không cung kính Tam bảo, không nghe lời dạy của thiện tri thức, luôn luôn ở trong ba đường ác và nơi tám nạn, ngu si vô trí sao? Lại nữa, thân này của ta hôm nay, trên thì xem thường Tam Bảo, dưới thì khinh miệt người lành, không nghe lời của thiện tri thức. Vậy thì đời vị lai làm sao ta có thể gặp được Tam bảo sanh, vào cõi lành?

Lại nữa, thân này hôm nay dù muốn tu đạo, thì cũng không thể nào an ổn. Bởi vì, trụ ở cõi Ta-bà này, mạng người thì ngắn ngủi, ác tri thức thì rất nhiều, lại thêm suốt đời cứ chăm lo cái ăn, cái mặc chẳng đủ. Hoặc bị vua quan bức bách, hoặc bị người khác xem thường, hoặc bị người khác hủy báng, hoặc luôn luôn bị người khác quấy rối không được an ổn, vừa khởi một chút thiện tâm thì liền lui sụt. Lại nữa, thân này là do 36 vật bất tịnh tạo thành, chín lỗ thường tiết ra những chất hôi dơ, giống như nhà xí, thật chẳng đáng có gì để ưa thích. Lại có nỗi khổ về sanh, nỗi khổ về già, nỗi khổ về bệnh, nỗi khổ về cái chết, nỗi khổ vì yêu thương xa lìa, nỗi khổ vì oán thù gặp gỡ, nỗi khổ về mong cầu không thỏa mãn, nỗi khổ vì ngũ ấm lẫy lừng. Những nỗi khổ như thế cứ đeo đuổi mãi thân ta.

Người hiểu biết nên tự quán sát thân mình: “Thân này như oan gia, như đống phân. Đối với nhà cửa, giường chiếu mền mùng thì khởi ý niệm như là mồ mã, như những tấm da người. Đối với thức ăn thức uống thì khởi tưởng như giòi bọ, như trùng dơ, như nước nhơ uế. Đối với vợ con quyến thuộc thì nên khởi tưởng như là La-sát, như ác quỷ. Nếu tâm này có thể suy nghĩ như vậy, thì nên sanh ý tưởng vô cùng nhàm chán thân này. Nguyện đời đời kiếp kiếp vĩnh viễn xa lìa, không thọ thân này, không ở chung với thân này. Bởi thân này là oan gia của ta, nó luôn dẫn ta vào trong ba đường ác, có người trí nào mà thích thân này đâu? Như kinh Di giáo từng dạy: “Thân này nên buông xả, đó là vật tội ác, chỉ tạm gọi là thân. Thân này luôn chìm đắm trong biển lớn sanh già bệnh chết. Có người trí nào từ bỏ thân này mà không vui thích!”.

ƯA THÍCH TỊNH ĐỘ

Người trí lại suy nghĩ:

Thân này của ta hôm nay sanh vào thời kì 500 năm lần thứ sáu sau khi Thế Tôn vào Niết-bàn. Tất cả Thánh nhân đã ẩn hết. Dù muốn tu đạo, thì đây cũng không phải là thời gian thích hợp để tu định-huệ, mà chính là lúc nên sám hối, niệm Phật. Như trong kinh đã dạy: “Đức Phật A-di-đà bạt mái chèo từ bi, cỡi con thuyền đại nguyện cứu vớt tất cả chúng sanh đau khổ. Nếu người nào một lòng niệm Phật A-di-đà, thì trong mỗi một niệm như vậy sẽ diệt được tội trong 80 ức kiếp sanh tử. Sau khi mạng chung được sanh về cõi tịnh, hưởng thụ mọi niềm vui, đạt được năm thần thông, chứng đắc được giai vị Bất thoái”. Lúc bấy giờ, cõi báu rừng hoa tùy ý ngao du, viên âm thật tướng mặc tình nghe nhận. Trong đài hoa sen, rực rỡ thân vàng sắc tía; trên tòa Kim cang rạng ngời 32 tướng đại trượng phu. Bên thềm bảy báu ta quỳ dài hỏi pháp môn Bất nhị; trong ao nước tám công đức ta rửa rạch trần cấu vô minh. Y phục thì lụa là xứng thể; thức ăn thì trăm vị thơm ngon; đi thì sen xanh đỡ chân, ngồi thì hoa báu nâng thể. Cây lay động những cành lá lưu ly, rừng đong đưa những đóa hoa mã não. Hoa đẹp tỏa mùi hương thơm ngát, trái ngon rực sáng cả năm màu. Lan can được điêu khắc bằng bốn báu, mặt đất rực rỡ bởi bảy trân. Tiếng sáo, tiếng tiêu phát ra nghìn âm thanh vi diệu, lầu vàng gác ngọc hàm chứa muôn vạn sắc màu. Chim Bạch hạc, chim Khổng tước luôn diễn nói pháp năm căn. Chim Anh vũ, chim Xá-lợi thường tuyên dương Bát chánh đạo. Đức Phật A-di-đà thì tướng tướng rõ ràng, Bồ-tát Quán Thế Âm thì hảo hảo đầy đủ.

Những cảnh tượng như thế thật tuyệt diệu chẳng thể nghĩ bàn, ai nghe mà không sanh lòng ưa thích.

Trích dịch từ luận Tịnh độ.



11 thg 10, 2015

Niệm Phật tại chùa Huệ Nhãn (Giồng Trôm, BếnTre) 11/10/2015


Một ngày tu tập cùng với các Phật tử khiếm thị đạo tràng chùa Huệ Nhãn thật an lạc! Chia sẻ với các bạn đồng tu còn nhiều khó khăn, các Phật tử đã dành một ít quà gửi tặng các bạn đạo.






















Hoạt động sắp tới được cập nhật TẠI ĐÂY